Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn trung quoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trung quoc. Hiển thị tất cả bài đăng

4 thg 6, 2012

Vịnh Cam Ranh: Chuyện thật như bịa

Xuống địa phương thấy lúc nào cán bộ cũng bận họp, bận đi cơ sở. Vậy đi cơ sở làm gì khi mà những chuyện "tầy đình" xẩy ra lại không hay biết?

Mấy tuần gần đây, liên tiếp có nhiều chuyện "nóng" khiến dư luận bàn tán. Mới đây nhất, lại chuyện các thương lái Trung Quốc vào làm ăn buôn bán ở khắp đất nước ta cứ như chỗ... không người.

Chuyện "lắc và gật"

Làm ăn, buôn bán, chuyện sang tận "xứ người" đầu tư thời hội nhập cũng là "chuyện thường ngày ở huyện" nên không thể "bế quan tỏa cảng".

Chúng ta cũng sang tận bên kia đại dương, cách nửa vòng trái đất đầu tư khai thác còn gì.

Hội nhập mở cửa thì mọi thứ đều phải chấp nhận, vấn đề là sức đề kháng của cơ thể. Và thứ nữa là phải biết "gật' và biết "lắc" đúng lúc đúng việc.

Lồng bè do những người Trung Quốc điều hành tại Cam Ranh
Có quá nhiều bài học cho sự "lắc và gật".

Nhiều nhà máy đường, rồi nhà máy xi măng lò đứng có dạo ồ ạt tràn sang. Có đại biểu Quốc hội đăng đàn cảnh báo và nói rõ nếu chúng ta cứ "gật" như vậy sớm muộn đất nước ta sẽ trở thành bãi rác.

Chuyện "lắc và gật" dư luận còn lên tiếng trong nhiều dự án cụ thể: Cho thuê rừng đầu nguồn, nơi biên giới. Sân golf ở mũi Sa Vĩ địa bàn quan trọng địa đầu tổ quốc. Các dự án ở những vị trí chiến lược thời gian qua...cũng đã "nóng" tại Hội trường Quốc hội.

Người viết bài này đã từng đến dự án sân golf ở Móng Cái ngay sát cửa khẩu sông Bắc Luân.

Bên kia là đất láng giềng, nơi có dự án nhà máy điện hạt nhân, còn bên này là dự án sân golf.

Địa phương cho biết dự án này phải báo cáo lên trên. Trên đã thẩm định chu đáo nên mới "gật". Nhưng nhiều người đến đây vẫn thấy tiếc cho một bãi biển non nước hữu tình sát biên giới- bãi biển Trà Cổ- không được đầu tư lại mọc lên một dự án khác. Và quan trọng đây là một vị trí chiến lược như nhiều người đã từng lên tiếng.

Và chuyện không "lắc" không "gật"

Nhưng có những chuyện không "lắc", cũng không "gật" nhưng vẫn xẩy ra. Chuyện mua cua ở Cà Mau, mua dứa, mua khoai ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Khi hỏi thì chính quyền sở tại không biết, cũng chả ai "gật".

Mới đây nhất, việc thương lái Trung Quốc vào tận quân cảng Cam Ranh nuôi cá. Khi báo chí lên tiếng thì địa phương mới giật mình chỉ đạo cơ sở báo cáo.

Lạ nhỉ, đất nước ta có tiếng là trật tự, kỷ cương, quản lý chặt chẽ từ trên xuống dưới cơ mà.

Việc gì ở đâu đều không thể thoát được sự quản lý. Ví như các vụ tội phạm. Nhiều vụ việc những tên tội phạm gây án không hề để lại dấu vết mà chúng ta đã nhanh chóng truy nã và phát hiện được chỉ trong ít thời gian...

Thế mà ở đây thương lái Trung Quốc không những vào thu mua cá mà còn tổ chức nuôi lồng bè cá chỉ cách quân cảng Cam Ranh có 300m.

Lại còn chuyện những người này đã kịp thời... lấy vợ "tại trận" như cái anh A Giót. Ông thương lái này lấy được một chị vợ ở ngay Cam Ranh mà địa phương cũng không biết mới là chuyện thật như bịa.

Khi nhiều thông tin đăng tải trên báo, Thành ủy Cam Ranh liền chỉ đạo UBND Cam Ranh báo cáo. Ngay sau đó UBND Khánh Hòa có văn bản khẩn yêu cầu TP Cam Ranh vào cuộc và phải báo cáo sớm.

Thật là một sự chỉ đạo khẩn trương. Tuy muộn!

Thôi thì các vụ khác họ có thu mua như cua, dứa, đỉa, hay như móng trâu, râu ngô non rồi "chuồn" thì còn có lý do, đằng này lại tổ chức cả 4 cơ sở thu mua cá và 1 cơ sở nuôi với rất nhiều lồng bè vào cỡ nhất nhì cơ mà.

Tài thật, tài không thể hiểu nổi.

Mà sao bây giờ hệ thống chính quyền ta chỗ nào cũng được Nhà nước trả lương lại làm ăn thế nhỉ? Không biết họ làm gì?

Đọc báo chí, nghe tin tức mà thấy giật mình. Đành rằng ở tận Trung ương không nắm được phải chỉ đạo báo cáo để nắm. Đằng này ngay việc của địa phương cũng không nắm được lại phải dưới báo cáo.

Thế những cuộc hội họp giao ban hàng ngày hàng tuần đều có, sao không có ai phản ảnh? Xuống địa phương thấy lúc nào cán bộ cũng bận họp, bận đi cơ sở. Vậy đi cơ sở làm gì khi mà những chuyện "tầy đình" xẩy ra lại không hay biết?

Không biết là điều đáng trách nhưng biết mà không báo cáo mới là chuyện đáng đặt dấu hỏi? Phải chăng là bao che hay còn gì nữa không?

Cam Ranh là quân cảng và giá trị của nó như thế nào,  người Việt Nam chắc ai cũng đều hiểu.

Việc bất chấp tất cả làm ngơ cho người nước ngoài vào đây làm những việc "bình thường mà không bình thường" nên chăng cần làm rõ.

Nguồn: TuanVN.

1 thg 6, 2012

Việt Nam diễn tập bắn đạn thật trên biển Đông

Sáng 31/5, Quân khu 5 vừa  thực hiện cuộc diễn tập bắn đạn thật trong nỗ lực tăng cường năng lực phòng thủ biển tại khu vực huyện Phù Mỹ, Bình Định.

Tham dự buổi diễn tập có Thiếu tướng Trần Quang Phương, Chỉnh uỷ Quân khu 5 và Thiếu tướng Nguyễn Long Cáng, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu.

Đây là cuộc diễn tập bắn đạn thật với mục tiêu vận động trên biển, nhằm kiểm tra kết quả huấn luyện và khả năng cơ động sẵn sàng chiến đấu của lực lượng quân khu..

Quân đội Việt Nam đang nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ biển
Với mục tiêu giả định là 'tàu địch' vận động cách xa 7km, pháo binh của trung đoàn 368 được nói đã bắn trúng đích, hạ mục tiêu.

Ngoài các cuộc diễn tập bắn đạn thật phòng không thực hiện nhiều lần, quân đội Việt Nam bắt đầu tổ chức các cuộc diễn tập bắn đạn thật trên biển, được cho là tối quan trọng trong việc tăng cường năng lực phòng thủ, đối phó với các đe dọa từ tàu chiến nước ngoài.

Hoạt động này đặc biệt thu hút sự chú ý, khi căng thẳng đang gia tăng quanh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Quan ngại trước việc căng thẳng vấn đề tranh chấp trên biển Đông, động thái này của Bộ Quốc phòng Việt Nam cho thấy sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

Về phía Thế giới, cả Trung Quốc, Philippines, Mỹ và gần đây nhất là Nhật Bản đã chen 1 chân vào biển Đông nhằm tìm kiếm tài nguyên biển.

Cùng ngày thì các trang mạng Việt Nam đã đăng bài "Người Trung Quốc đóng bè trên vịnh Cam Ranh". Ai cũng biết, Cam Ranh là một quân cảng “nhạy cảm” về chiến lược quân sự, nhưng từ những bè cá của người Trung Quốc này có thể “nhòm” khá rõ quân cảng. Sự việc này bước đầu cho thấy Trung Quốc đang muốn thăm dò động thái của các nhà chức trách Việt Nam về vấn đề biển Đông.

 Nguồn: Tổng hợp.

30 thg 5, 2012

Trung Quốc muốn gì tại châu Á?

Để có nhiều năng lượng hơn nữa và ít lệ thuộc vào bên ngoài, Trung Quốc cần một tiến trình Helsinki năm 1975 chứ không phải là một cuộc chạy đua hải quân năm 1908.

Ở sườn phía Đông và dốc của lục địa Á - Âu, nền kinh tế phát triển chóng mặt của Trung Quốc đang "quá nóng" và hội nhập sâu vào hệ thống đôla dầu lửa. Bắc Kinh hiện không thể dự tính cũng như không có đủ lực để tự cung cấp bất kỳ nguồn tài nguyên nào trong quá trình tìm kiếm nguyên liệu thay thế. Thu nhập của Trung Quốc phụ thuộc lớn vào xuất khẩu và dự trữ của nước này chủ yếu là sự pha trộn của các trái phiếu kho bạc Mỹ và đồng USD.

Để tiếp tục là một thực thể chính trị - xã hội và kinh tế độc lập đạt thành quả ngoạn mục, Trung Quốc cần nhiều năng lượng hơn nữa nhưng phải ít lệ thuộc vào bên ngoài.

Về đối nội, các sức ép dân số - nhập cư là rất lớn, các nhu cầu khu vực cao, và kỳ vọng lớn. Vì phụ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng từ bên ngoài, Trung Quốc dường như đang chuyển sang nâng cấp quân đội của mình hơn là hướng tới các giải pháp năng lượng thay thế/ các đầu tư vào công nghệ xanh - vì họ không có thời gian, kế hoạch cũng như nguồn lực để làm hai việc một lúc.

Bắc Kinh có thể nghĩ rằng việc kéo dài chính sách ngăn chặn, đặc biệt tại biển Đông, sẽ đến lúc không thể chịu được, và đồng thời họ sẽ có được năng lượng hóa thạch (ở châu Phi và vùng Vịnh), và thậm chí với giá rẻ hơn nhờ sự trợ giúp của các tàu chiến.

Trên thực tế, kế hoạch cải tiến quân đội sắp tới của Trung Quốc sẽ chỉ củng cố thêm các thỏa thuận an ninh song phương mới và đang có với các nước láng giềng, mà đầu tiên là với Mỹ - vì hiện nay tại châu Á, không ai muốn trở thành bị động. Rốt cuộc, điều này có thể tạo ra một sự cô lập về chính trị và quân sự (cộng thêm gánh nặng tài chính) đối với Trung Quốc, việc sẽ giúp giải thích cho và làm giảm bớt sự hiện diện mạnh mẽ hơn của quân đội Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là tại biển Đông.


Do đó, việc Trung Quốc chiếm đoạt nhiên liệu hóa thạch hay cạnh tranh quân sự để giành quyền kiểm soát trên biển không phải là một thách thức, mà là một động lực cho tư thế của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn cầu. Mỹ không thể không thừa nhận rằng hiện một nửa hàng hóa thế giới đang phải đi qua biển Đông.

Vì vây, Mỹ muốn khai thác mọi cuộc tranh chấp lãnh thổ trong khu vực và các xích mích khác để phục vụ lợi ích an ninh cho mình, trong đó có việc chia sẻ với các đối tác trong khu vực gánh nặng chi phí cho sự hiện diện quân sự của họ, cũng như duy trì vị trí chủ đạo trong khu vực biển tại châu Á này - vùng biển kéo dài từ vịnh Persic đến Ấn Độ Dương, qua Malacca và biển Đông tới Đông Bắc và Trung Thái Bình Dương.

Thách thức thực sự luôn là tối ưu hóa chi phí (về chính trị tinh thần và tài chính) trong khi vẫn đáp ứng các mục tiêu chiến lược quốc gia. Trong trường hợp này, đây có thể là một sự trở lại kiên quyết của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ xanh, gắn liền với xây dựng các công ty đa phương tại châu Á.

Nếu không lập lại mối quan hệ hữu nghị với các "nhà vô địch" về chủ nghĩa đa phương tại châu Á - như Indonesia, Ấn Độ và Nhật Bản - thì Trung Quốc không có môi trường để phát triển một cách nghiêm túc và nổi lên như một lãnh đạo toàn cầu hùng mạnh, lâu dài và đáng tin cậy. Vì vậy, cái mà Trung Quốc cần tại châu Á không phải là một cuộc chạy đua hải quân năm 1908, mà là một tiến trình Helsinki năm 1975.

Lựa chọn chiến lược của Trung Quốc sẽ có tác động mạnh tới sân khấu sôi động tại châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các thông điệp cũng rõ ràng: một lực lượng quân đội xác quyết - không thân thiện, công nghệ mới - khiến các nước láng giềng quan tâm.

Với cái đà hiện nay, khó tưởng tượng ra trong vài thập kỷ tới một nước nào đó có thể chơi hay hơn Mỹ trên sân chơi toàn cầu về an ninh - dầu lửa, tài chính - dầu lửa và quân sự - dầu lửa. Nhìn vào sự hội tụ dầu lửa - tài chính - công nghệ - quân sự, có thể thấy kiểu đối đầu này bị điều khiển bởi Mỹ và các đồng minh thân cận của họ, và sẽ chỉ có ích cho họ trong tương lai.

Trong lòng nhóm nước thuộc OECD/IEA, hoặc nhỏ hơn như G-8 (những nước có nguồn lực, cơ sở hạ tầng, truyền thống và kinh nghiệm để đạt các bước đột phá về công nghệ nền tảng), chỉ Nhật Bản là nước có thể thực sự tính đến một sự vực dậy kiểu chữ U về công nghệ xanh hay công nghệ tái sinh.

Sự phụ thuộc quá lớn của Tokyo vào năng lượng từ bên ngoài là tuyệt đối và kéo dài. Sau thảm kịch hạt nhân gần đây, Nhật Bản sẽ cần một vài năm để vượt qua cú sốc này về tâm lý và kinh tế - nhưng họ sẽ học được một bài học mới.

Đối với một nền kinh tế lớn và dân số đông, lại nằm trên một khu vực đất đai rộng lớn liên tiếp bị thiên tai tàn phá (và còn phụ thuộc vào một ảnh hưởng bên ngoài khác - nguồn dầu mỏ Arập) như quốc đảo Mặt trời mọc, rất có thể một bước thay đổi mang tính quyết định hướng tới năng lượng xanh là con đường duy nhất để Nhật Bản sống sót, tái sinh và, nếu có thể, tự giải phóng mình.

Một phần quan trọng trong thỏa thuận an ninh Mỹ - Nhật là Mỹ đảm bảo an toàn cho các tuyến cung cấp năng lượng cho Tokyo (vốn đã trở nên phi quân sự sau chiến tranh thế giới thứ hai). Sau trận quyết chiến với động đất - sóng thần - phóng xạ gần đây, và sau khi chứng kiến những "đợt sóng" quân sự /hải quân của Trung Quốc vừa qua, Nhật Bản sẽ khó tránh khỏi việc nghĩ lại và xem lại chính sách năng lượng của mình.

Tokyo ý thức rõ rằng sự thiển cận về địa chiến lược tại châu Á là rất lớn và kéo dài, vì nhiều nước châu Á hoặc bị mắc kẹt trong chủ nghĩa khu vực hẹp hòi hoặc bảo vệ chủ nghĩa ích kỷ về kinh tế của mình.

Cuối cùng, Nhật Bản là nước châu Á duy nhất thực sự học được bài học từ các diễn biến lịch sử hiện đại của mình, họ học được tất cả những hạn chế của việc phô trương quyền lực cứng và các lực lượng kháng cự mạnh của các nước láng giềng.

Tuy nhiên, lịch sử cận đại và hiện đại của Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước khác có ảnh hưởng lớn tại châu Á, lại không "tặng" cho họ một kinh nghiệm tương tự. Điều đó cho thấy Viễn Đông sẽ là một khu vực có thể phát triển công nghệ xanh và một điểm đến thu hút nhiều nước châu Á trong thập kỷ tới./.

Nguồn: tuanvietnam.

29 thg 5, 2012

Nhật Bản muốn là người thứ 3 trên Biển Đông

Việc các lực lượng bên ngoài tham gia giải quyết những tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông đang dần dần trở thành thực tế, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Trung Quốc. Mới đây đến lượt Nhật Bản kiên quyết trở thành người thứ 3 có mặt tại Biển Đông…

Nhật – Trung tái đấu?

Gần đây những động thái can thiệp tình hình Biển Đông của Nhật Bản ngày càng mạnh lên. Điển hình nhất là việc ngày 28/5/2012, Nhật đã điều 3 tầu chiến hiện đại của mình “ghé thăm” Philippines, nhằm hợp tác nâng cao khả năng bảo vệ hàng hải và lãnh thổ cho quốc gia này.

Trước đó, Tokyo và Manila đã từng đưa ra Tuyên bố chung về tăng cường hợp tác trong vấn đề Biển Đông. Theo đó, cả 2 quốc gia đều tái khẳng định Biển Đông là vùng biển quan trọng nối liền thế giới với châu Á – Thái Bình Dương, việc đảm bảo an ninh đường biển ở Biển Đông là lợi ích chung của hai nước.

Có thể thấy rằng, Nhật Bản và Philippines đang lấy Trung Quốc làm đề tài để xác định mục tiêu tăng cường hợp tác mọi mặt, nhưng đối với mỗi nước có tính toán riêng. Philippines cần thêm một chỗ dựa vững chắc “ngoài” Mỹ để không phải phụ thuộc quá sâu với cường quốc này.
Tầu chiến hiện đại của Nhật đã được điều động tới Biển Đông
Ở chiều ngược lại, Nhật Bản cũng mong muốn thông qua Philippines để có thể với xa hơn tới tận Biển Đông, hạn chế sự bành trướng của Bắc Kinh, tạo thế bao vây uy hiếp trên biển đối với “con rồng” của Châu Á này.
Thông qua Philippines, Nhật Bản sẽ lôi kéo được nhiều nước Đông Nam Á cùng đối phó với Trung Quốc, ý đồ của Nhật Bản là hình thành chế độ phối hợp hai cánh giữa biển Hoa Đông và biển Biển Đông, tăng thêm con bài trong vấn đề Hoa Đông cũng như tranh chấp liên quan tới đảo Điếu Ngư (Senkaku).

Nếu xét trên bàn cờ chiến lược của Nhật Bản, các vấn đề về Biển Đông và Hoa Đông liên quan mật thiết với nhau. Nhật Bản muốn lôi kéo, rút ngắn khoảng cách với các nước Đông Nam Á để gây ảnh hưởng của mình ở khu vực.

Để đảm bảo lợi ích an ninh ở trong và ngoài nước, biện pháp cơ bản của Nhật Bản không ngoài ba cách tính là tăng cường lực lượng phòng vệ tự chủ, củng cố liên minh Nhật-Mỹ và hợp tác khu vực.

Dụng ý sâu xa của Nhật trong việc muốn can thiệp sâu vào vấn đề Biển Đông chính là ý tưởng “đồng bộ hóa” những tranh chấp của Tokyo và Bắc Kinh trên biển trở thành vấn đề song hành với tranh chấp trên Biển Đông, qua đó dư luận thế giới sẽ ủng hộ Nhật nhiều hơn.

Nói cách khác là nếu Nhật giúp Asean “chiến thắng” Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông, cũng chính là Nhật Bản đã tự giúp mình trong việc giải quyết công việc nội bộ giữa Nhật và Trung. Liệu rằng sẽ có một cuộc “tái đấu” giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngay trên Biển Đông?
Có khi nào Nhật, Mỹ bắt tay, gõ đầu Trung Hoa?

Ngay sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hilarry Clinton bày tỏ sự “quan tâm” đối với vấn đề Biển Đông và cho biết tranh chấp lãnh thổ các đảo ở Biển Đông liên quan đến lợi ích quốc gia của nước Mỹ, đề xuất phương pháp giải quyết bằng phương thức đàm phán đa phương.

Không lâu sau đó Chính phủ Nhật Bản đã nhấn mạnh Nhật Bản và liên minh Nhật-Mỹ cần phát huy vai trò không thể thiếu được trong việc ổn định và sự phồn vinh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhật Bản phải chứng minh cho Mỹ thấy được rằng Nhật Bản vẫn có ý nguyện kiên định và có đủ khả năng ủng hộ, phối hợp với Mỹ điều chỉnh chiến lược khu vực. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi ý định bành trướng của Trung Quốc đã thể hiện quá rõ ràng.

Nhưng phối hợp với Mỹ, “bảo vệ an ninh hàng hải” lại không phải là toàn bộ động cơ để Nhật Bản can dự vào Biển Đông. Thời kỳ đầu sau chiến tranh Thế giới II, Nhật Bản coi Đông Nam Á là bàn đạp để khôi phục kinh tế và trở lại với cộng đồng quốc tế, sau đó lại coi Đông Nam Á là chỗ dựa về địa chính trị và sân sau chiến lược để trở thành nước lớn chính trị, một thời gian dài trọng tâm viện trợ đối ngoại của Nhật Bản đã nghiêng về khu vực này.

Cũng bởi những lý do này mà Nhật sẽ không bảo giờ từ bỏ những gì Asean đã mang lại cho Tokyo. Nhật Bản đã công khai đăng đàn ủng hộ lập trường của những quốc gia Đông Nam Á trong tranh chấp trên Biển Đông, và thúc đẩy tổ chức đàm phán đa phương để giải quyết vấn đề tranh chấp này.

Rõ ràng, các chính trị gia của Tôkyô đều biết rõ rằng Trung Quốc là một cơ hội trong việc giúp Nhật Bản loại bỏ suy thoái, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội. Nhưng đó chỉ là cái lợi trước mắt, vậy nên nếu Tokyo tham cái lợi này họ sẽ mất đi toàn bộ lợi ích, cũng như vị thế địa chính trị sau này tại Châu Á.

Bởi thế, Nhật Bản sẽ không bao giờ từ bỏ ý định can dự vào vấn đề Biển Đông, phối hợp với Mỹ, kiềm chế Trung Quốc, nâng cao giá trị của bản thân, lôi kéo Asean…

Quan hệ Việt - Trung: Cảnh giác trước sự chia rẻ

Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn, đã nhắc nhở cộng đồng người Việt đang làm ăn sinh sống tại Bắc Kinh cẩn thận trước ‘âm mưu chia rẽ’ quan hệ Việt – Trung.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, vốn cũng là chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, đưa ra phát biểu này tại buổi gặp các Việt kiều, các doanh nghiệp và du học sinh Việt Nam tại Bắc Kinh hôm thứ Bảy ngày 26/5.
Ảnh Minh Hoạ
Ông yêu cầu Việt kiều tại Trung Quốc phải ‘nâng cao tinh thần cảnh giác’ trước ‘các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền và chống phá’ mối quan hệ giữa hai nước của ‘các thế lực phản động và thù địch’, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam.

‘Hữu nghị truyền thống’

Ông cũng mô tả mối quan hệ Việt Trung là ‘hữu nghị’ và ‘gắn bó truyền thống’. Mối quan hệ được ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông dày công vun đắp’, theo ông Sơn, là ‘tài sản vô cùng quý báu của nhân dân hai nước’.

Về tình cảm của nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam, ông cho rằng ‘rất chân thành và gắn bó’.
Về những bất đồng giữa hai nước mà ông thừa nhận là đang tồn tại, ông Sơn cho rằng ‘sẽ kiên trì giải quyết bằng biện pháp đối thoại hòa bình’.

Cách giải quyết các bất đồng này, theo ông, là dựa trên cơ sở ‘thỏa thuận cấp cao của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước’.

Do đó, ông cảnh báo tránh để xảy ra ‘tình huống bất lợi’ làm ‘ảnh hưởng lợi ích cũng như tình cảm hữu nghị, gắn bó lâu dài giữa hai dân tộc’.

Thông tấn xã Việt Nam cũng dẫn lời ông Nguyễn Thiệu Quang thay mặt cho các Việt kiều ở Bắc Kinh cho biết ông và cộng đồng người Việt ở đây ‘sẽ tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương đường lối phát triển quan hệ hữu nghị với Trung Quốc’.

Ông Quang cũng hứa sẽ ‘không dao động trước các luận điệu tuyên truyền, lôi kéo và kích động gây chia rẽ quan hệ của các thế lực thù địch’.

Trong buổi gặp này, cộng đồng người Việt tại Bắc Kinh cũng kiến nghị với ông Sơn cho xây dựng một trung tâm văn hóa Việt Nam tại đây.

Chuyến thăm lần này đến Bắc Kinh của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn là để trao đổi về công tác lãnh sự và kinh nghiệm về công tác kiều dân cũng như tham dự Diễn đàn hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư và du lịch Việt Nam – Trung Quốc tại Bắc Kinh từ ngày 20 đến 23/5, Thông tấn xã Việt Nam cho biết.

Ông đã có cuộc hội đàm với người tương nhiệm Trung Quốc là Tạ Hằng Sinh vào hôm thứ Sáu 24/5 về công tác lãnh sự giữa hai nước.

Sau đó một ngày, ông đã hội kiến với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì trong một cuộc gặp mà tại đó hai ông ca ngợi mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước.

Trao đổi với BBC, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (từ năm 1974 đến năm 1989), cho biết số lượng người Việt ở Trung Quốc rất ít ỏi, chủ yếu ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Vân Nam và Quảng Châu.

Ông cho biết những căng thẳng gần đây trên Biển Đông không có ảnh hưởng gì nhiều đến Việt kiều và chính phủ Trung Quốc cũng ‘không gây khó khăn gì đối với họ’.

Tuy nhiên, ông cho biết trong thời gian ông làm đại sứ ở Trung Quốc, chính quyền sở tại không muốn ông gặp và tiếp xúc với cộng đồng người Việt vì sợ ông sẽ ‘nói sự thật cho họ biết’ về những căng thẳng giữa hai nước vào thời điểm đó, như xung đột quân sự hay sự xâm lấn của Pol Pot ở biên giới Tây Nam.

Nguồn: BBC

25 thg 5, 2012

Thượng viện Mỹ sẽ sớm thông qua UNCLOS?

Ngày 23-5, Thượng viện Mỹ tiến hành xem xét việc thông qua Công ước Luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) 1982. Phiên điều trần diễn ra trong bối cảnh nước Mỹ đang có những điều chỉnh lớn về chính sách đối ngoại và thế giới đang chứng kiến nhiều cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo đáng chú ý.

Tranh luận nội bộ về UNCLOS

Là một quốc gia luôn đề cao sức mạnh của luật pháp nhưng quá trình Mỹ xem xét phê chuẩn UNCLOS chưa bao giờ diễn ra như mong đợi. Vấn đề UNCLOS đã trở thành "di sản" đối ngoại của nước Mỹ từ thời Tổng thống thứ 40 Ronal Reagan. Trải qua gần 4 đời Tổng thống Mỹ với 6 nhiệm kỳ kể từ đó, UNCLOS luôn là đề tài tranh luận giữa phía Chính quyền và Quốc hội Mỹ. Trong khi, các Tổng thống thúc giục phê chuẩn để bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Bắc Cực cũng như nhiều nơi khác, thì Quốc hội luôn chần chừ vì lợi ích từ khai thác dầu khí ở vùng thềm lục địa và duy trì ảnh hưởng của lực lượng hải quân Mỹ với "nguyên tắc" tự do lưu thông hàng hải.

Kể từ tháng 3/2004, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã ít nhất 2 lần đồng thuận thông qua một nghị quyết ủng hộ việc phê chuẩn UNCLOS. Sau đó, một số tướng lĩnh quân đội, cựu Đại sứ Mỹ tại LHQ, nhiều chỉ huy chiến dịch hải quân, và Phòng Thương mại Mỹ cũng đã ủng hộ văn bản này.

Gần đây vấn đề này càng trở nên nóng hơn khi chỉ còn ít tháng nữa sẽ đến bầu cử Tổng thống Mỹ và các cuộc tranh chấp biển đảo, trong đó có tranh chấp biển Đông, đang có những diễn biến mới phức tạp hơn, ảnh hưởng đến lợi ích chiến lược của Mỹ tại khu vực.

Công ước Luật biển hiện nay là kết quả hội nghị UNCLOS lần thứ III của Liên hợp quốc diễn ra từ năm 1973 đến năm 1982, trong đó có những quy định về các vùng biển như nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa. Công ước này có hiệu lực từ năm 1994, sau khi được quốc gia thứ 60 phê chuẩn. Mặc dù, Mỹ đã ký vào bản Công ước có 162 thành viên này nhưng điều này không phát sinh hiệu lực đối với Mỹ do chưa được Quốc hội Mỹ phê chuẩn.
Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, Ngoại trưởng Hillary Clinton và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Martin Dempsey tại phiên điều trần (từ phải qua).
Phê chuẩn: Được nhiều hơn?

Thông qua UNCLOS sẽ đảm bảo những lợi ích hàng hải cho chính nước Mỹ. Sở hữu vùng EEZ lớn hơn bất kỳ nước nào trên thế giới với các nguồn tài nguyên biển phong phú trong đó có các vùng biển giàu khoáng sản gần bờ, Mỹ có thể thúc đẩy kinh tế, tăng sản xuất năng lượng và tạo ra nhiều việc làm mới trong nước, từ đó góp phần khắc phục khủng hoảng kinh tế hiện tại.

Theo Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, việc phê chuẩn Công ước luật biển 1982 sẽ hỗ trợ nhiều ngành kinh tế chính của Mỹ như các ngành dầu mỏ, năng lượng, đóng tàu, vận tải biển,... Các ngành kinh tế này sẽ được lợi vì Công ước Luật biển 1982 cung cấp khung pháp lý hợp pháp hình thành một môi trường an ninh ổn định cho các hoạt động kinh doanh.

Chia sẻ quan điểm này, Tướng Martin Dempsey, chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân Mỹ nhận xét rằng việc phê chuẩn UNCLOS sẽ giúp Mỹ đạt được những mục tiêu chiến lược ở các khu vực như châu Á. Tại khu vực biển Đông, yêu sách "đường lười bò" của Trung Quốc không hề có tính pháp lý nếu tham chiếu các điều khoản của UNCLOS 1982. Nếu Mỹ phê chuẩn công ước này, Mỹ sẽ trở thành một bên thành viên của công ước như 5 nước tranh chấp chính ở quần đảo Trường Sa Trung Quốc, Việt Nam, Philipines, Malaysia và Brunei (ngoài ra có có yếu tố Đài Loan). Từ đó, Mỹ sẽ có thêm một công cụ hòa bình để kiềm chế những hành động gây hấn và bảo vệ lợi ích của đồng minh Philipines ở khu vực biển Đông.

Lợi ích từ việc phê chuẩn này còn thể hiện ở chỗ Mỹ sẽ giành lại sự tín nhiệm của các nước và có tiếng nói hơn trong các vấn đề liên quan tới biển khi kêu gọi các quốc gia khác phải tuân theo các quy định của luật pháp quốc tế. Minh họa cho điều này chính là cuộc khủng hoảng hiện nay tại eo biển Hormuz. Với việc tự do lưu thông hàng hải được quy định trong UNCLOS, Mỹ sẽ có lập trường pháp lý vững vàng trong việc tự do qua lại dù Iran tuyên bố có thể đóng cửa eo biển này. Như vậy, chính sách cô lập Iran buộc nước này từ bỏ chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân có thêm cơ sở để thành công.

Ngoại trưởng Hillary Clinton từng tuyên bố xem việc thông qua UNCLOS là ưu tiên hàng đầu về đối ngoại trong nhiệm kỳ của bà. Ngoài ra, UNCLOS cũng được Tổng thống Obama, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và nhiều chỉ huy hải quân Mỹ ủng hộ. Do vậy, nhiều người đã lạc quan cho rằng Thượng viện Mỹ sẽ sớm tích cực xem xét bỏ phiếu thông qua Công ước quan trọng này.

Nguồn: Sưu Tầm.