Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn chien tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chien tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

30 thg 5, 2012

Trung Quốc muốn gì tại châu Á?

Để có nhiều năng lượng hơn nữa và ít lệ thuộc vào bên ngoài, Trung Quốc cần một tiến trình Helsinki năm 1975 chứ không phải là một cuộc chạy đua hải quân năm 1908.

Ở sườn phía Đông và dốc của lục địa Á - Âu, nền kinh tế phát triển chóng mặt của Trung Quốc đang "quá nóng" và hội nhập sâu vào hệ thống đôla dầu lửa. Bắc Kinh hiện không thể dự tính cũng như không có đủ lực để tự cung cấp bất kỳ nguồn tài nguyên nào trong quá trình tìm kiếm nguyên liệu thay thế. Thu nhập của Trung Quốc phụ thuộc lớn vào xuất khẩu và dự trữ của nước này chủ yếu là sự pha trộn của các trái phiếu kho bạc Mỹ và đồng USD.

Để tiếp tục là một thực thể chính trị - xã hội và kinh tế độc lập đạt thành quả ngoạn mục, Trung Quốc cần nhiều năng lượng hơn nữa nhưng phải ít lệ thuộc vào bên ngoài.

Về đối nội, các sức ép dân số - nhập cư là rất lớn, các nhu cầu khu vực cao, và kỳ vọng lớn. Vì phụ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng từ bên ngoài, Trung Quốc dường như đang chuyển sang nâng cấp quân đội của mình hơn là hướng tới các giải pháp năng lượng thay thế/ các đầu tư vào công nghệ xanh - vì họ không có thời gian, kế hoạch cũng như nguồn lực để làm hai việc một lúc.

Bắc Kinh có thể nghĩ rằng việc kéo dài chính sách ngăn chặn, đặc biệt tại biển Đông, sẽ đến lúc không thể chịu được, và đồng thời họ sẽ có được năng lượng hóa thạch (ở châu Phi và vùng Vịnh), và thậm chí với giá rẻ hơn nhờ sự trợ giúp của các tàu chiến.

Trên thực tế, kế hoạch cải tiến quân đội sắp tới của Trung Quốc sẽ chỉ củng cố thêm các thỏa thuận an ninh song phương mới và đang có với các nước láng giềng, mà đầu tiên là với Mỹ - vì hiện nay tại châu Á, không ai muốn trở thành bị động. Rốt cuộc, điều này có thể tạo ra một sự cô lập về chính trị và quân sự (cộng thêm gánh nặng tài chính) đối với Trung Quốc, việc sẽ giúp giải thích cho và làm giảm bớt sự hiện diện mạnh mẽ hơn của quân đội Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là tại biển Đông.


Do đó, việc Trung Quốc chiếm đoạt nhiên liệu hóa thạch hay cạnh tranh quân sự để giành quyền kiểm soát trên biển không phải là một thách thức, mà là một động lực cho tư thế của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn cầu. Mỹ không thể không thừa nhận rằng hiện một nửa hàng hóa thế giới đang phải đi qua biển Đông.

Vì vây, Mỹ muốn khai thác mọi cuộc tranh chấp lãnh thổ trong khu vực và các xích mích khác để phục vụ lợi ích an ninh cho mình, trong đó có việc chia sẻ với các đối tác trong khu vực gánh nặng chi phí cho sự hiện diện quân sự của họ, cũng như duy trì vị trí chủ đạo trong khu vực biển tại châu Á này - vùng biển kéo dài từ vịnh Persic đến Ấn Độ Dương, qua Malacca và biển Đông tới Đông Bắc và Trung Thái Bình Dương.

Thách thức thực sự luôn là tối ưu hóa chi phí (về chính trị tinh thần và tài chính) trong khi vẫn đáp ứng các mục tiêu chiến lược quốc gia. Trong trường hợp này, đây có thể là một sự trở lại kiên quyết của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ xanh, gắn liền với xây dựng các công ty đa phương tại châu Á.

Nếu không lập lại mối quan hệ hữu nghị với các "nhà vô địch" về chủ nghĩa đa phương tại châu Á - như Indonesia, Ấn Độ và Nhật Bản - thì Trung Quốc không có môi trường để phát triển một cách nghiêm túc và nổi lên như một lãnh đạo toàn cầu hùng mạnh, lâu dài và đáng tin cậy. Vì vậy, cái mà Trung Quốc cần tại châu Á không phải là một cuộc chạy đua hải quân năm 1908, mà là một tiến trình Helsinki năm 1975.

Lựa chọn chiến lược của Trung Quốc sẽ có tác động mạnh tới sân khấu sôi động tại châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các thông điệp cũng rõ ràng: một lực lượng quân đội xác quyết - không thân thiện, công nghệ mới - khiến các nước láng giềng quan tâm.

Với cái đà hiện nay, khó tưởng tượng ra trong vài thập kỷ tới một nước nào đó có thể chơi hay hơn Mỹ trên sân chơi toàn cầu về an ninh - dầu lửa, tài chính - dầu lửa và quân sự - dầu lửa. Nhìn vào sự hội tụ dầu lửa - tài chính - công nghệ - quân sự, có thể thấy kiểu đối đầu này bị điều khiển bởi Mỹ và các đồng minh thân cận của họ, và sẽ chỉ có ích cho họ trong tương lai.

Trong lòng nhóm nước thuộc OECD/IEA, hoặc nhỏ hơn như G-8 (những nước có nguồn lực, cơ sở hạ tầng, truyền thống và kinh nghiệm để đạt các bước đột phá về công nghệ nền tảng), chỉ Nhật Bản là nước có thể thực sự tính đến một sự vực dậy kiểu chữ U về công nghệ xanh hay công nghệ tái sinh.

Sự phụ thuộc quá lớn của Tokyo vào năng lượng từ bên ngoài là tuyệt đối và kéo dài. Sau thảm kịch hạt nhân gần đây, Nhật Bản sẽ cần một vài năm để vượt qua cú sốc này về tâm lý và kinh tế - nhưng họ sẽ học được một bài học mới.

Đối với một nền kinh tế lớn và dân số đông, lại nằm trên một khu vực đất đai rộng lớn liên tiếp bị thiên tai tàn phá (và còn phụ thuộc vào một ảnh hưởng bên ngoài khác - nguồn dầu mỏ Arập) như quốc đảo Mặt trời mọc, rất có thể một bước thay đổi mang tính quyết định hướng tới năng lượng xanh là con đường duy nhất để Nhật Bản sống sót, tái sinh và, nếu có thể, tự giải phóng mình.

Một phần quan trọng trong thỏa thuận an ninh Mỹ - Nhật là Mỹ đảm bảo an toàn cho các tuyến cung cấp năng lượng cho Tokyo (vốn đã trở nên phi quân sự sau chiến tranh thế giới thứ hai). Sau trận quyết chiến với động đất - sóng thần - phóng xạ gần đây, và sau khi chứng kiến những "đợt sóng" quân sự /hải quân của Trung Quốc vừa qua, Nhật Bản sẽ khó tránh khỏi việc nghĩ lại và xem lại chính sách năng lượng của mình.

Tokyo ý thức rõ rằng sự thiển cận về địa chiến lược tại châu Á là rất lớn và kéo dài, vì nhiều nước châu Á hoặc bị mắc kẹt trong chủ nghĩa khu vực hẹp hòi hoặc bảo vệ chủ nghĩa ích kỷ về kinh tế của mình.

Cuối cùng, Nhật Bản là nước châu Á duy nhất thực sự học được bài học từ các diễn biến lịch sử hiện đại của mình, họ học được tất cả những hạn chế của việc phô trương quyền lực cứng và các lực lượng kháng cự mạnh của các nước láng giềng.

Tuy nhiên, lịch sử cận đại và hiện đại của Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước khác có ảnh hưởng lớn tại châu Á, lại không "tặng" cho họ một kinh nghiệm tương tự. Điều đó cho thấy Viễn Đông sẽ là một khu vực có thể phát triển công nghệ xanh và một điểm đến thu hút nhiều nước châu Á trong thập kỷ tới./.

Nguồn: tuanvietnam.

29 thg 5, 2012

Nhật Bản muốn là người thứ 3 trên Biển Đông

Việc các lực lượng bên ngoài tham gia giải quyết những tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông đang dần dần trở thành thực tế, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Trung Quốc. Mới đây đến lượt Nhật Bản kiên quyết trở thành người thứ 3 có mặt tại Biển Đông…

Nhật – Trung tái đấu?

Gần đây những động thái can thiệp tình hình Biển Đông của Nhật Bản ngày càng mạnh lên. Điển hình nhất là việc ngày 28/5/2012, Nhật đã điều 3 tầu chiến hiện đại của mình “ghé thăm” Philippines, nhằm hợp tác nâng cao khả năng bảo vệ hàng hải và lãnh thổ cho quốc gia này.

Trước đó, Tokyo và Manila đã từng đưa ra Tuyên bố chung về tăng cường hợp tác trong vấn đề Biển Đông. Theo đó, cả 2 quốc gia đều tái khẳng định Biển Đông là vùng biển quan trọng nối liền thế giới với châu Á – Thái Bình Dương, việc đảm bảo an ninh đường biển ở Biển Đông là lợi ích chung của hai nước.

Có thể thấy rằng, Nhật Bản và Philippines đang lấy Trung Quốc làm đề tài để xác định mục tiêu tăng cường hợp tác mọi mặt, nhưng đối với mỗi nước có tính toán riêng. Philippines cần thêm một chỗ dựa vững chắc “ngoài” Mỹ để không phải phụ thuộc quá sâu với cường quốc này.
Tầu chiến hiện đại của Nhật đã được điều động tới Biển Đông
Ở chiều ngược lại, Nhật Bản cũng mong muốn thông qua Philippines để có thể với xa hơn tới tận Biển Đông, hạn chế sự bành trướng của Bắc Kinh, tạo thế bao vây uy hiếp trên biển đối với “con rồng” của Châu Á này.
Thông qua Philippines, Nhật Bản sẽ lôi kéo được nhiều nước Đông Nam Á cùng đối phó với Trung Quốc, ý đồ của Nhật Bản là hình thành chế độ phối hợp hai cánh giữa biển Hoa Đông và biển Biển Đông, tăng thêm con bài trong vấn đề Hoa Đông cũng như tranh chấp liên quan tới đảo Điếu Ngư (Senkaku).

Nếu xét trên bàn cờ chiến lược của Nhật Bản, các vấn đề về Biển Đông và Hoa Đông liên quan mật thiết với nhau. Nhật Bản muốn lôi kéo, rút ngắn khoảng cách với các nước Đông Nam Á để gây ảnh hưởng của mình ở khu vực.

Để đảm bảo lợi ích an ninh ở trong và ngoài nước, biện pháp cơ bản của Nhật Bản không ngoài ba cách tính là tăng cường lực lượng phòng vệ tự chủ, củng cố liên minh Nhật-Mỹ và hợp tác khu vực.

Dụng ý sâu xa của Nhật trong việc muốn can thiệp sâu vào vấn đề Biển Đông chính là ý tưởng “đồng bộ hóa” những tranh chấp của Tokyo và Bắc Kinh trên biển trở thành vấn đề song hành với tranh chấp trên Biển Đông, qua đó dư luận thế giới sẽ ủng hộ Nhật nhiều hơn.

Nói cách khác là nếu Nhật giúp Asean “chiến thắng” Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông, cũng chính là Nhật Bản đã tự giúp mình trong việc giải quyết công việc nội bộ giữa Nhật và Trung. Liệu rằng sẽ có một cuộc “tái đấu” giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngay trên Biển Đông?
Có khi nào Nhật, Mỹ bắt tay, gõ đầu Trung Hoa?

Ngay sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hilarry Clinton bày tỏ sự “quan tâm” đối với vấn đề Biển Đông và cho biết tranh chấp lãnh thổ các đảo ở Biển Đông liên quan đến lợi ích quốc gia của nước Mỹ, đề xuất phương pháp giải quyết bằng phương thức đàm phán đa phương.

Không lâu sau đó Chính phủ Nhật Bản đã nhấn mạnh Nhật Bản và liên minh Nhật-Mỹ cần phát huy vai trò không thể thiếu được trong việc ổn định và sự phồn vinh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhật Bản phải chứng minh cho Mỹ thấy được rằng Nhật Bản vẫn có ý nguyện kiên định và có đủ khả năng ủng hộ, phối hợp với Mỹ điều chỉnh chiến lược khu vực. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi ý định bành trướng của Trung Quốc đã thể hiện quá rõ ràng.

Nhưng phối hợp với Mỹ, “bảo vệ an ninh hàng hải” lại không phải là toàn bộ động cơ để Nhật Bản can dự vào Biển Đông. Thời kỳ đầu sau chiến tranh Thế giới II, Nhật Bản coi Đông Nam Á là bàn đạp để khôi phục kinh tế và trở lại với cộng đồng quốc tế, sau đó lại coi Đông Nam Á là chỗ dựa về địa chính trị và sân sau chiến lược để trở thành nước lớn chính trị, một thời gian dài trọng tâm viện trợ đối ngoại của Nhật Bản đã nghiêng về khu vực này.

Cũng bởi những lý do này mà Nhật sẽ không bảo giờ từ bỏ những gì Asean đã mang lại cho Tokyo. Nhật Bản đã công khai đăng đàn ủng hộ lập trường của những quốc gia Đông Nam Á trong tranh chấp trên Biển Đông, và thúc đẩy tổ chức đàm phán đa phương để giải quyết vấn đề tranh chấp này.

Rõ ràng, các chính trị gia của Tôkyô đều biết rõ rằng Trung Quốc là một cơ hội trong việc giúp Nhật Bản loại bỏ suy thoái, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội. Nhưng đó chỉ là cái lợi trước mắt, vậy nên nếu Tokyo tham cái lợi này họ sẽ mất đi toàn bộ lợi ích, cũng như vị thế địa chính trị sau này tại Châu Á.

Bởi thế, Nhật Bản sẽ không bao giờ từ bỏ ý định can dự vào vấn đề Biển Đông, phối hợp với Mỹ, kiềm chế Trung Quốc, nâng cao giá trị của bản thân, lôi kéo Asean…

Quan hệ Việt - Trung: Cảnh giác trước sự chia rẻ

Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn, đã nhắc nhở cộng đồng người Việt đang làm ăn sinh sống tại Bắc Kinh cẩn thận trước ‘âm mưu chia rẽ’ quan hệ Việt – Trung.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, vốn cũng là chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, đưa ra phát biểu này tại buổi gặp các Việt kiều, các doanh nghiệp và du học sinh Việt Nam tại Bắc Kinh hôm thứ Bảy ngày 26/5.
Ảnh Minh Hoạ
Ông yêu cầu Việt kiều tại Trung Quốc phải ‘nâng cao tinh thần cảnh giác’ trước ‘các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền và chống phá’ mối quan hệ giữa hai nước của ‘các thế lực phản động và thù địch’, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam.

‘Hữu nghị truyền thống’

Ông cũng mô tả mối quan hệ Việt Trung là ‘hữu nghị’ và ‘gắn bó truyền thống’. Mối quan hệ được ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông dày công vun đắp’, theo ông Sơn, là ‘tài sản vô cùng quý báu của nhân dân hai nước’.

Về tình cảm của nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam, ông cho rằng ‘rất chân thành và gắn bó’.
Về những bất đồng giữa hai nước mà ông thừa nhận là đang tồn tại, ông Sơn cho rằng ‘sẽ kiên trì giải quyết bằng biện pháp đối thoại hòa bình’.

Cách giải quyết các bất đồng này, theo ông, là dựa trên cơ sở ‘thỏa thuận cấp cao của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước’.

Do đó, ông cảnh báo tránh để xảy ra ‘tình huống bất lợi’ làm ‘ảnh hưởng lợi ích cũng như tình cảm hữu nghị, gắn bó lâu dài giữa hai dân tộc’.

Thông tấn xã Việt Nam cũng dẫn lời ông Nguyễn Thiệu Quang thay mặt cho các Việt kiều ở Bắc Kinh cho biết ông và cộng đồng người Việt ở đây ‘sẽ tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương đường lối phát triển quan hệ hữu nghị với Trung Quốc’.

Ông Quang cũng hứa sẽ ‘không dao động trước các luận điệu tuyên truyền, lôi kéo và kích động gây chia rẽ quan hệ của các thế lực thù địch’.

Trong buổi gặp này, cộng đồng người Việt tại Bắc Kinh cũng kiến nghị với ông Sơn cho xây dựng một trung tâm văn hóa Việt Nam tại đây.

Chuyến thăm lần này đến Bắc Kinh của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn là để trao đổi về công tác lãnh sự và kinh nghiệm về công tác kiều dân cũng như tham dự Diễn đàn hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư và du lịch Việt Nam – Trung Quốc tại Bắc Kinh từ ngày 20 đến 23/5, Thông tấn xã Việt Nam cho biết.

Ông đã có cuộc hội đàm với người tương nhiệm Trung Quốc là Tạ Hằng Sinh vào hôm thứ Sáu 24/5 về công tác lãnh sự giữa hai nước.

Sau đó một ngày, ông đã hội kiến với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì trong một cuộc gặp mà tại đó hai ông ca ngợi mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước.

Trao đổi với BBC, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (từ năm 1974 đến năm 1989), cho biết số lượng người Việt ở Trung Quốc rất ít ỏi, chủ yếu ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Vân Nam và Quảng Châu.

Ông cho biết những căng thẳng gần đây trên Biển Đông không có ảnh hưởng gì nhiều đến Việt kiều và chính phủ Trung Quốc cũng ‘không gây khó khăn gì đối với họ’.

Tuy nhiên, ông cho biết trong thời gian ông làm đại sứ ở Trung Quốc, chính quyền sở tại không muốn ông gặp và tiếp xúc với cộng đồng người Việt vì sợ ông sẽ ‘nói sự thật cho họ biết’ về những căng thẳng giữa hai nước vào thời điểm đó, như xung đột quân sự hay sự xâm lấn của Pol Pot ở biên giới Tây Nam.

Nguồn: BBC

Tổng thống Mỹ Barack Obama: Không bao giờ quên bài học Chiến tranh Việt Nam

Ngày 28/5, phát biểu nhân dịp Ngày Tưởng nhớ tại Đài tưởng niệm cựu chiến binh tham gia cuộc chiến xâm lược Việt Nam tại Washington, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã gọi cuộc chiến phi nghĩa này là “chương đau đớn nhất trong lịch sử của chúng ta”.

Ông Obama trước Đài tưởng niệm binh lĩnh Mỹ thiệt mạng tại Việt Nam
Tại tấm bia khắc tên 58.282 binh lính Mỹ đã thiệt mạng trong cuộc chiến tại Đông Dương, đánh dấu 50 năm việc Mỹ can dự vào Việt Nam, ông Obama cho rằng sự kiện này có thể nhắc nhở nước Mỹ không bao giờ quên “những bài học của cuộc chiến”, trong đó có việc phái binh sĩ ra nước ngoài.

Trong khi đó ứng cử viên tổng thống tiềm tàng của Đảng Cộng hòa, ông Mitt Romney lại chọn Ngày Tưởng nhớ để tuyên bố với người Mỹ về quan điểm của ông rằng thế giới là nơi nguy hiểm, và Mỹ phải duy trì sức mạnh quân sự khủng khiếp nhất của nước này.

Ông nói với các cựu chiến binh bên cạnh Thượng nghị sĩ John McCain: “Thế giới không an toàn… Mỹ nay có hai con đường phía trước. Một là con đường theo Châu Âu, ngày càng thu nhỏ quân đội để chi tiền cho các nhu cầu xã hội. Và hai là “cam kết duy trì nước Mỹ như lực lượng quân sự mạnh nhất trên thế giới, không ở dưới ai, với sức mạnh không thể sánh kịp ở bất cứ nơi nào trên thế giới”./.

Nguồn: Sưu Tầm.