Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chap bien dong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chap bien dong. Hiển thị tất cả bài đăng

4 thg 6, 2012

Mỹ muốn gì khi quay lại Cam Ranh ?

Có mặt tại Cam Ranh (Khánh Hòa) hôm Chủ nhật 3/6, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta nói việc tàu Mỹ được tiếp cận cảng này là một yếu tố quan trọng cấu thành quan hệ Mỹ-Việt.

Ông Panetta đưa ra phát biểu vừa kể giữa lúc ông đang đi thăm cảng nước sâu tại Vịnh Cam Ranh, từng là một căn cứ quân sự Mỹ và trung tâm tiếp tế trong thời Chiến tranh Việt Nam,  một ngày sau khi phác họa chiến lược của Hoa Kỳ chuyển trọng tâm sang Châu Á.

Bộ trưởng Leon Panetta đang ở thăm chính thức Việt Nam
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng đi tham quan một tàu vận tải của Hải quân Hoa Kỳ đang được bảo trì tại Vịnh Cam Ranh. Ông cũng nói trong cuộc họp báo trên khoang tàu tiếp vận hải quân Richard E. Byrd rằng cảng Cam Ranh có thể đóng vai trò lớn trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu quân sự của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

 Âm mưu và thủ đoạn

Cảng Cam Ranh là cảng Quân sự chiến lược quan trọng việc quan sát tình hình chiến sự trên biển Đông. Từ khi chiến tranh Việt nam kết thúc năm 1975, Mỹ rút quân về và trả lại cho Việt Nam.

Hiện nay tranh chấp biển Đông đang nóng, Mỹ đã điều nhiều tàu chiến đến khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nhằm mục đích gì ? Giải quyết tranh chấp trên luật Quốc Tế ? hay tìm kiếm một cái gì đó từ đây ? Được biết ông Penetta là giới chức cấp cao đầu tiên của Hoa Kỳ tới thăm cảng Cam Ranh từ hồi kết thức chiến tranh 1975.

Giả dụ khi chiến sự xảy ra trên biển Đông, việc hậu, tình báo không đâu thuật lợi bằng cảng Cam Ranh. Trong năm 2012 Mỹ muốn bán nhiều loại vũ khí quân sự hiện đại cho Việt Nam. Tất cả những hành động của Mỹ cũng đủ để cho ta thấy mưu đồ và tham vọng của Mỹ.

Trước sự phát triển của Trung Quốc về kinh tế lẫn quân sự, các cường quốc đều lo ngại sự bành trướng quá mức của Trung Quốc khi nước này liên tiếp phá vỡ các hiệp định về an ninh khu vực lẫn hiệp định quốc tế.


Sáng nay 4/6, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh sẽ có buổi hội đàm với ông Panetta. Cuộc hội đàm sẽ vạch ra những kế hoạch gì khi Mỹ sẽ được sự trợ giúp từ Cảng Cam Ranh và Việt Nam sẽ có được những gì từ Mỹ ?

Thông tin sẽ được cập nhật trong bài viết tới.

Nguồn: Tổng hợp

1 thg 6, 2012

Việt Nam diễn tập bắn đạn thật trên biển Đông

Sáng 31/5, Quân khu 5 vừa  thực hiện cuộc diễn tập bắn đạn thật trong nỗ lực tăng cường năng lực phòng thủ biển tại khu vực huyện Phù Mỹ, Bình Định.

Tham dự buổi diễn tập có Thiếu tướng Trần Quang Phương, Chỉnh uỷ Quân khu 5 và Thiếu tướng Nguyễn Long Cáng, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu.

Đây là cuộc diễn tập bắn đạn thật với mục tiêu vận động trên biển, nhằm kiểm tra kết quả huấn luyện và khả năng cơ động sẵn sàng chiến đấu của lực lượng quân khu..

Quân đội Việt Nam đang nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ biển
Với mục tiêu giả định là 'tàu địch' vận động cách xa 7km, pháo binh của trung đoàn 368 được nói đã bắn trúng đích, hạ mục tiêu.

Ngoài các cuộc diễn tập bắn đạn thật phòng không thực hiện nhiều lần, quân đội Việt Nam bắt đầu tổ chức các cuộc diễn tập bắn đạn thật trên biển, được cho là tối quan trọng trong việc tăng cường năng lực phòng thủ, đối phó với các đe dọa từ tàu chiến nước ngoài.

Hoạt động này đặc biệt thu hút sự chú ý, khi căng thẳng đang gia tăng quanh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Quan ngại trước việc căng thẳng vấn đề tranh chấp trên biển Đông, động thái này của Bộ Quốc phòng Việt Nam cho thấy sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

Về phía Thế giới, cả Trung Quốc, Philippines, Mỹ và gần đây nhất là Nhật Bản đã chen 1 chân vào biển Đông nhằm tìm kiếm tài nguyên biển.

Cùng ngày thì các trang mạng Việt Nam đã đăng bài "Người Trung Quốc đóng bè trên vịnh Cam Ranh". Ai cũng biết, Cam Ranh là một quân cảng “nhạy cảm” về chiến lược quân sự, nhưng từ những bè cá của người Trung Quốc này có thể “nhòm” khá rõ quân cảng. Sự việc này bước đầu cho thấy Trung Quốc đang muốn thăm dò động thái của các nhà chức trách Việt Nam về vấn đề biển Đông.

 Nguồn: Tổng hợp.

30 thg 5, 2012

Trung Quốc muốn gì tại châu Á?

Để có nhiều năng lượng hơn nữa và ít lệ thuộc vào bên ngoài, Trung Quốc cần một tiến trình Helsinki năm 1975 chứ không phải là một cuộc chạy đua hải quân năm 1908.

Ở sườn phía Đông và dốc của lục địa Á - Âu, nền kinh tế phát triển chóng mặt của Trung Quốc đang "quá nóng" và hội nhập sâu vào hệ thống đôla dầu lửa. Bắc Kinh hiện không thể dự tính cũng như không có đủ lực để tự cung cấp bất kỳ nguồn tài nguyên nào trong quá trình tìm kiếm nguyên liệu thay thế. Thu nhập của Trung Quốc phụ thuộc lớn vào xuất khẩu và dự trữ của nước này chủ yếu là sự pha trộn của các trái phiếu kho bạc Mỹ và đồng USD.

Để tiếp tục là một thực thể chính trị - xã hội và kinh tế độc lập đạt thành quả ngoạn mục, Trung Quốc cần nhiều năng lượng hơn nữa nhưng phải ít lệ thuộc vào bên ngoài.

Về đối nội, các sức ép dân số - nhập cư là rất lớn, các nhu cầu khu vực cao, và kỳ vọng lớn. Vì phụ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng từ bên ngoài, Trung Quốc dường như đang chuyển sang nâng cấp quân đội của mình hơn là hướng tới các giải pháp năng lượng thay thế/ các đầu tư vào công nghệ xanh - vì họ không có thời gian, kế hoạch cũng như nguồn lực để làm hai việc một lúc.

Bắc Kinh có thể nghĩ rằng việc kéo dài chính sách ngăn chặn, đặc biệt tại biển Đông, sẽ đến lúc không thể chịu được, và đồng thời họ sẽ có được năng lượng hóa thạch (ở châu Phi và vùng Vịnh), và thậm chí với giá rẻ hơn nhờ sự trợ giúp của các tàu chiến.

Trên thực tế, kế hoạch cải tiến quân đội sắp tới của Trung Quốc sẽ chỉ củng cố thêm các thỏa thuận an ninh song phương mới và đang có với các nước láng giềng, mà đầu tiên là với Mỹ - vì hiện nay tại châu Á, không ai muốn trở thành bị động. Rốt cuộc, điều này có thể tạo ra một sự cô lập về chính trị và quân sự (cộng thêm gánh nặng tài chính) đối với Trung Quốc, việc sẽ giúp giải thích cho và làm giảm bớt sự hiện diện mạnh mẽ hơn của quân đội Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là tại biển Đông.


Do đó, việc Trung Quốc chiếm đoạt nhiên liệu hóa thạch hay cạnh tranh quân sự để giành quyền kiểm soát trên biển không phải là một thách thức, mà là một động lực cho tư thế của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn cầu. Mỹ không thể không thừa nhận rằng hiện một nửa hàng hóa thế giới đang phải đi qua biển Đông.

Vì vây, Mỹ muốn khai thác mọi cuộc tranh chấp lãnh thổ trong khu vực và các xích mích khác để phục vụ lợi ích an ninh cho mình, trong đó có việc chia sẻ với các đối tác trong khu vực gánh nặng chi phí cho sự hiện diện quân sự của họ, cũng như duy trì vị trí chủ đạo trong khu vực biển tại châu Á này - vùng biển kéo dài từ vịnh Persic đến Ấn Độ Dương, qua Malacca và biển Đông tới Đông Bắc và Trung Thái Bình Dương.

Thách thức thực sự luôn là tối ưu hóa chi phí (về chính trị tinh thần và tài chính) trong khi vẫn đáp ứng các mục tiêu chiến lược quốc gia. Trong trường hợp này, đây có thể là một sự trở lại kiên quyết của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ xanh, gắn liền với xây dựng các công ty đa phương tại châu Á.

Nếu không lập lại mối quan hệ hữu nghị với các "nhà vô địch" về chủ nghĩa đa phương tại châu Á - như Indonesia, Ấn Độ và Nhật Bản - thì Trung Quốc không có môi trường để phát triển một cách nghiêm túc và nổi lên như một lãnh đạo toàn cầu hùng mạnh, lâu dài và đáng tin cậy. Vì vậy, cái mà Trung Quốc cần tại châu Á không phải là một cuộc chạy đua hải quân năm 1908, mà là một tiến trình Helsinki năm 1975.

Lựa chọn chiến lược của Trung Quốc sẽ có tác động mạnh tới sân khấu sôi động tại châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các thông điệp cũng rõ ràng: một lực lượng quân đội xác quyết - không thân thiện, công nghệ mới - khiến các nước láng giềng quan tâm.

Với cái đà hiện nay, khó tưởng tượng ra trong vài thập kỷ tới một nước nào đó có thể chơi hay hơn Mỹ trên sân chơi toàn cầu về an ninh - dầu lửa, tài chính - dầu lửa và quân sự - dầu lửa. Nhìn vào sự hội tụ dầu lửa - tài chính - công nghệ - quân sự, có thể thấy kiểu đối đầu này bị điều khiển bởi Mỹ và các đồng minh thân cận của họ, và sẽ chỉ có ích cho họ trong tương lai.

Trong lòng nhóm nước thuộc OECD/IEA, hoặc nhỏ hơn như G-8 (những nước có nguồn lực, cơ sở hạ tầng, truyền thống và kinh nghiệm để đạt các bước đột phá về công nghệ nền tảng), chỉ Nhật Bản là nước có thể thực sự tính đến một sự vực dậy kiểu chữ U về công nghệ xanh hay công nghệ tái sinh.

Sự phụ thuộc quá lớn của Tokyo vào năng lượng từ bên ngoài là tuyệt đối và kéo dài. Sau thảm kịch hạt nhân gần đây, Nhật Bản sẽ cần một vài năm để vượt qua cú sốc này về tâm lý và kinh tế - nhưng họ sẽ học được một bài học mới.

Đối với một nền kinh tế lớn và dân số đông, lại nằm trên một khu vực đất đai rộng lớn liên tiếp bị thiên tai tàn phá (và còn phụ thuộc vào một ảnh hưởng bên ngoài khác - nguồn dầu mỏ Arập) như quốc đảo Mặt trời mọc, rất có thể một bước thay đổi mang tính quyết định hướng tới năng lượng xanh là con đường duy nhất để Nhật Bản sống sót, tái sinh và, nếu có thể, tự giải phóng mình.

Một phần quan trọng trong thỏa thuận an ninh Mỹ - Nhật là Mỹ đảm bảo an toàn cho các tuyến cung cấp năng lượng cho Tokyo (vốn đã trở nên phi quân sự sau chiến tranh thế giới thứ hai). Sau trận quyết chiến với động đất - sóng thần - phóng xạ gần đây, và sau khi chứng kiến những "đợt sóng" quân sự /hải quân của Trung Quốc vừa qua, Nhật Bản sẽ khó tránh khỏi việc nghĩ lại và xem lại chính sách năng lượng của mình.

Tokyo ý thức rõ rằng sự thiển cận về địa chiến lược tại châu Á là rất lớn và kéo dài, vì nhiều nước châu Á hoặc bị mắc kẹt trong chủ nghĩa khu vực hẹp hòi hoặc bảo vệ chủ nghĩa ích kỷ về kinh tế của mình.

Cuối cùng, Nhật Bản là nước châu Á duy nhất thực sự học được bài học từ các diễn biến lịch sử hiện đại của mình, họ học được tất cả những hạn chế của việc phô trương quyền lực cứng và các lực lượng kháng cự mạnh của các nước láng giềng.

Tuy nhiên, lịch sử cận đại và hiện đại của Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước khác có ảnh hưởng lớn tại châu Á, lại không "tặng" cho họ một kinh nghiệm tương tự. Điều đó cho thấy Viễn Đông sẽ là một khu vực có thể phát triển công nghệ xanh và một điểm đến thu hút nhiều nước châu Á trong thập kỷ tới./.

Nguồn: tuanvietnam.

Việt Nam lo xung đột ở Biển Đông

Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Asean (ADMM-6) ở Phnom Penh, Đại tướng Phùng Quang Thanh cảnh báo nguy cơ xung đột quân sự ở Biển Đông nếu các bên không kiềm chế.

Hội nghị lần 6 của các bộ trưởng quốc phòng trong khối diễn ra hôm thứ Ba 29/5 ở thủ đô Campuchia, nước chủ tịch Asean năm 2012.

Việt Nam là một trong các quốc gia chủ chốt trong việc thúc đẩy diễn đàn ADMM
Phản ánh quan ngại của các nước trực tiếp liên quan tranh chấp ở Biển Đông, ông Phùng Quang Thanh nói trong bài phát biểu được báo Quân đội Nhân dân thuật lại, rằng "tình hình tranh chấp biên giới lãnh thổ ở khu vực và chủ quyền trên Biển Đông đang diễn biến khá phức tạp và có thể gây ra xung đột quân sự nếu các bên không nỗ lực kiềm chế"

“Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là một thực tế mà chúng ta không cần né tránh vì nó xảy ra trong khu vực Đông Nam Á, tranh chấp giữa các nước Asean với nhau và giữa một số nước Asean với quốc gia ở ngoài Asean”.

Ông Thanh không nói rõ 'quốc gia ở ngoài Asean' là nước nào, nhưng trong tranh chấp Biển Đông ngoại trừ Đài Loan mà đa số các nước Asean không công nhận là quốc gia độc lậ̣p, chỉ có Trung Quốc là không nằm trong khối Asean.

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt hiện cũng đang có chuyến thăm đầu tiên tới Campuchia. Ông Lương đã có cuộc gặp tham vấn kéo dài 45 phút với các bộ trưởng quốc phòng Asean vào tối thứ Ba.

Asean phải giữ vai trò chủ đạo

Phát biểu tại hội nghị vài tiếng trước đó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam kêu gọi khối Asean thể hiện rõ quyết tâm "duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, để xây dựng Cộng đồng chính trị -an ninh vào năm 2015".

Ông Thanh cũng nhấn mạnh, "khi tăng cường hợp tác với các đối tác ngoài khu vực, Asean phải giữ được vai trò chủ đạo".

Gần đây, Biển Đông đang dần dần trở thành một trong các vấn đề gây chia rẽ lớn trong khối Asean, một phần bị cho là vì một số quốc gia không liên quan trực tiếp đã không tích cực trong việc đi tìm giải pháp.
Bắc Kinh cũng nhiều lần cáo buộc một số nước Asean vì quyền lợi của mình mà "lôi kéo" các nước khác để đối chọi với Trung Quốc.

Trung Quốc và Asean đang tìm kiếm một bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) thay cho Tuyên bố chung về Ứng xử của các nước ở Biển Đông (DOC) mà hai bên đã ký từ 2002 nhưng không có hiệu quả trong kiềm chế tranh chấp.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh kêu gọi các bên bình tĩnh, "hết sức kiềm chế, tiến hành đàm phán hòa bình để giải quyết các tranh chấp trên biển bằng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982)".

Ônh nhắc lại chủ trương của Việt Nam: “Trong quá trình đàm phán hòa bình, tranh chấp song phương thì hai nước đàm phán với nhau để giải quyết".

"Còn những tranh chấp đa phương, giữa nhiều nước, nhiều bên, phải giải quyết đa phương, nỗ lực tìm kiếm giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được”.

Chỉ còn vấn đề Biển Đông

Bộ trưởng Thanh thừa nhận: "Tranh chấp trên biển là vấn đề duy nhất còn tồn tại trong quan hệ Việt - Trung hiện nay".

Ông cũng nói giữa Việt Nam và Trung Quốc đã "có những lúc có tranh chấp trên biển khá phức tạp", nhưng chủ trương của Việt Nam là giữ quan hệ hợp tác-giao lưu về quốc phòng và quân sự.

"Lãnh đạo Quân đội hai nước gặp nhau trao đổi thẳng thắn, chân tình và thống nhất quân đội hai nước phải kiềm chế không để xảy ra xung đột quân sự trên biển."

Ông bộ trưởng kêu gọi chính phủ hai bên chú ý quản lý các phương tiện truyền thông, "không để các cơ quan báo chí đăng tải những bài viết có tính chất kích động, chia rẽ quan hệ hai nước, làm phức tạp thêm tình hình".

Kết thúc hội nghị ADMM-6, các bộ trưởng quốc phòng Asean đã ký kết Tuyên bố chung, trong đó tái khẳng định cam kết của Asean về việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, hướng tới việc thông qua COC.
Tuyên bố này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hàng hải ở Biển Đông "theo đúng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế".

Cuối tuần này, ông Phùng Quang Thanh sẽ tới Singapore để tham dự Diễn đàn an ninh Shangri-La (1/6-3/6).

Nguồn: Sưu Tầm.

29 thg 5, 2012

Nhật Bản muốn là người thứ 3 trên Biển Đông

Việc các lực lượng bên ngoài tham gia giải quyết những tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông đang dần dần trở thành thực tế, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Trung Quốc. Mới đây đến lượt Nhật Bản kiên quyết trở thành người thứ 3 có mặt tại Biển Đông…

Nhật – Trung tái đấu?

Gần đây những động thái can thiệp tình hình Biển Đông của Nhật Bản ngày càng mạnh lên. Điển hình nhất là việc ngày 28/5/2012, Nhật đã điều 3 tầu chiến hiện đại của mình “ghé thăm” Philippines, nhằm hợp tác nâng cao khả năng bảo vệ hàng hải và lãnh thổ cho quốc gia này.

Trước đó, Tokyo và Manila đã từng đưa ra Tuyên bố chung về tăng cường hợp tác trong vấn đề Biển Đông. Theo đó, cả 2 quốc gia đều tái khẳng định Biển Đông là vùng biển quan trọng nối liền thế giới với châu Á – Thái Bình Dương, việc đảm bảo an ninh đường biển ở Biển Đông là lợi ích chung của hai nước.

Có thể thấy rằng, Nhật Bản và Philippines đang lấy Trung Quốc làm đề tài để xác định mục tiêu tăng cường hợp tác mọi mặt, nhưng đối với mỗi nước có tính toán riêng. Philippines cần thêm một chỗ dựa vững chắc “ngoài” Mỹ để không phải phụ thuộc quá sâu với cường quốc này.
Tầu chiến hiện đại của Nhật đã được điều động tới Biển Đông
Ở chiều ngược lại, Nhật Bản cũng mong muốn thông qua Philippines để có thể với xa hơn tới tận Biển Đông, hạn chế sự bành trướng của Bắc Kinh, tạo thế bao vây uy hiếp trên biển đối với “con rồng” của Châu Á này.
Thông qua Philippines, Nhật Bản sẽ lôi kéo được nhiều nước Đông Nam Á cùng đối phó với Trung Quốc, ý đồ của Nhật Bản là hình thành chế độ phối hợp hai cánh giữa biển Hoa Đông và biển Biển Đông, tăng thêm con bài trong vấn đề Hoa Đông cũng như tranh chấp liên quan tới đảo Điếu Ngư (Senkaku).

Nếu xét trên bàn cờ chiến lược của Nhật Bản, các vấn đề về Biển Đông và Hoa Đông liên quan mật thiết với nhau. Nhật Bản muốn lôi kéo, rút ngắn khoảng cách với các nước Đông Nam Á để gây ảnh hưởng của mình ở khu vực.

Để đảm bảo lợi ích an ninh ở trong và ngoài nước, biện pháp cơ bản của Nhật Bản không ngoài ba cách tính là tăng cường lực lượng phòng vệ tự chủ, củng cố liên minh Nhật-Mỹ và hợp tác khu vực.

Dụng ý sâu xa của Nhật trong việc muốn can thiệp sâu vào vấn đề Biển Đông chính là ý tưởng “đồng bộ hóa” những tranh chấp của Tokyo và Bắc Kinh trên biển trở thành vấn đề song hành với tranh chấp trên Biển Đông, qua đó dư luận thế giới sẽ ủng hộ Nhật nhiều hơn.

Nói cách khác là nếu Nhật giúp Asean “chiến thắng” Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông, cũng chính là Nhật Bản đã tự giúp mình trong việc giải quyết công việc nội bộ giữa Nhật và Trung. Liệu rằng sẽ có một cuộc “tái đấu” giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngay trên Biển Đông?
Có khi nào Nhật, Mỹ bắt tay, gõ đầu Trung Hoa?

Ngay sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hilarry Clinton bày tỏ sự “quan tâm” đối với vấn đề Biển Đông và cho biết tranh chấp lãnh thổ các đảo ở Biển Đông liên quan đến lợi ích quốc gia của nước Mỹ, đề xuất phương pháp giải quyết bằng phương thức đàm phán đa phương.

Không lâu sau đó Chính phủ Nhật Bản đã nhấn mạnh Nhật Bản và liên minh Nhật-Mỹ cần phát huy vai trò không thể thiếu được trong việc ổn định và sự phồn vinh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhật Bản phải chứng minh cho Mỹ thấy được rằng Nhật Bản vẫn có ý nguyện kiên định và có đủ khả năng ủng hộ, phối hợp với Mỹ điều chỉnh chiến lược khu vực. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi ý định bành trướng của Trung Quốc đã thể hiện quá rõ ràng.

Nhưng phối hợp với Mỹ, “bảo vệ an ninh hàng hải” lại không phải là toàn bộ động cơ để Nhật Bản can dự vào Biển Đông. Thời kỳ đầu sau chiến tranh Thế giới II, Nhật Bản coi Đông Nam Á là bàn đạp để khôi phục kinh tế và trở lại với cộng đồng quốc tế, sau đó lại coi Đông Nam Á là chỗ dựa về địa chính trị và sân sau chiến lược để trở thành nước lớn chính trị, một thời gian dài trọng tâm viện trợ đối ngoại của Nhật Bản đã nghiêng về khu vực này.

Cũng bởi những lý do này mà Nhật sẽ không bảo giờ từ bỏ những gì Asean đã mang lại cho Tokyo. Nhật Bản đã công khai đăng đàn ủng hộ lập trường của những quốc gia Đông Nam Á trong tranh chấp trên Biển Đông, và thúc đẩy tổ chức đàm phán đa phương để giải quyết vấn đề tranh chấp này.

Rõ ràng, các chính trị gia của Tôkyô đều biết rõ rằng Trung Quốc là một cơ hội trong việc giúp Nhật Bản loại bỏ suy thoái, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội. Nhưng đó chỉ là cái lợi trước mắt, vậy nên nếu Tokyo tham cái lợi này họ sẽ mất đi toàn bộ lợi ích, cũng như vị thế địa chính trị sau này tại Châu Á.

Bởi thế, Nhật Bản sẽ không bao giờ từ bỏ ý định can dự vào vấn đề Biển Đông, phối hợp với Mỹ, kiềm chế Trung Quốc, nâng cao giá trị của bản thân, lôi kéo Asean…

Quan hệ Việt - Trung: Cảnh giác trước sự chia rẻ

Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn, đã nhắc nhở cộng đồng người Việt đang làm ăn sinh sống tại Bắc Kinh cẩn thận trước ‘âm mưu chia rẽ’ quan hệ Việt – Trung.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, vốn cũng là chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, đưa ra phát biểu này tại buổi gặp các Việt kiều, các doanh nghiệp và du học sinh Việt Nam tại Bắc Kinh hôm thứ Bảy ngày 26/5.
Ảnh Minh Hoạ
Ông yêu cầu Việt kiều tại Trung Quốc phải ‘nâng cao tinh thần cảnh giác’ trước ‘các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền và chống phá’ mối quan hệ giữa hai nước của ‘các thế lực phản động và thù địch’, theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam.

‘Hữu nghị truyền thống’

Ông cũng mô tả mối quan hệ Việt Trung là ‘hữu nghị’ và ‘gắn bó truyền thống’. Mối quan hệ được ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông dày công vun đắp’, theo ông Sơn, là ‘tài sản vô cùng quý báu của nhân dân hai nước’.

Về tình cảm của nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam, ông cho rằng ‘rất chân thành và gắn bó’.
Về những bất đồng giữa hai nước mà ông thừa nhận là đang tồn tại, ông Sơn cho rằng ‘sẽ kiên trì giải quyết bằng biện pháp đối thoại hòa bình’.

Cách giải quyết các bất đồng này, theo ông, là dựa trên cơ sở ‘thỏa thuận cấp cao của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước’.

Do đó, ông cảnh báo tránh để xảy ra ‘tình huống bất lợi’ làm ‘ảnh hưởng lợi ích cũng như tình cảm hữu nghị, gắn bó lâu dài giữa hai dân tộc’.

Thông tấn xã Việt Nam cũng dẫn lời ông Nguyễn Thiệu Quang thay mặt cho các Việt kiều ở Bắc Kinh cho biết ông và cộng đồng người Việt ở đây ‘sẽ tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương đường lối phát triển quan hệ hữu nghị với Trung Quốc’.

Ông Quang cũng hứa sẽ ‘không dao động trước các luận điệu tuyên truyền, lôi kéo và kích động gây chia rẽ quan hệ của các thế lực thù địch’.

Trong buổi gặp này, cộng đồng người Việt tại Bắc Kinh cũng kiến nghị với ông Sơn cho xây dựng một trung tâm văn hóa Việt Nam tại đây.

Chuyến thăm lần này đến Bắc Kinh của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn là để trao đổi về công tác lãnh sự và kinh nghiệm về công tác kiều dân cũng như tham dự Diễn đàn hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư và du lịch Việt Nam – Trung Quốc tại Bắc Kinh từ ngày 20 đến 23/5, Thông tấn xã Việt Nam cho biết.

Ông đã có cuộc hội đàm với người tương nhiệm Trung Quốc là Tạ Hằng Sinh vào hôm thứ Sáu 24/5 về công tác lãnh sự giữa hai nước.

Sau đó một ngày, ông đã hội kiến với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì trong một cuộc gặp mà tại đó hai ông ca ngợi mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước.

Trao đổi với BBC, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (từ năm 1974 đến năm 1989), cho biết số lượng người Việt ở Trung Quốc rất ít ỏi, chủ yếu ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Vân Nam và Quảng Châu.

Ông cho biết những căng thẳng gần đây trên Biển Đông không có ảnh hưởng gì nhiều đến Việt kiều và chính phủ Trung Quốc cũng ‘không gây khó khăn gì đối với họ’.

Tuy nhiên, ông cho biết trong thời gian ông làm đại sứ ở Trung Quốc, chính quyền sở tại không muốn ông gặp và tiếp xúc với cộng đồng người Việt vì sợ ông sẽ ‘nói sự thật cho họ biết’ về những căng thẳng giữa hai nước vào thời điểm đó, như xung đột quân sự hay sự xâm lấn của Pol Pot ở biên giới Tây Nam.

Nguồn: BBC

25 thg 5, 2012

Thượng viện Mỹ sẽ sớm thông qua UNCLOS?

Ngày 23-5, Thượng viện Mỹ tiến hành xem xét việc thông qua Công ước Luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) 1982. Phiên điều trần diễn ra trong bối cảnh nước Mỹ đang có những điều chỉnh lớn về chính sách đối ngoại và thế giới đang chứng kiến nhiều cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo đáng chú ý.

Tranh luận nội bộ về UNCLOS

Là một quốc gia luôn đề cao sức mạnh của luật pháp nhưng quá trình Mỹ xem xét phê chuẩn UNCLOS chưa bao giờ diễn ra như mong đợi. Vấn đề UNCLOS đã trở thành "di sản" đối ngoại của nước Mỹ từ thời Tổng thống thứ 40 Ronal Reagan. Trải qua gần 4 đời Tổng thống Mỹ với 6 nhiệm kỳ kể từ đó, UNCLOS luôn là đề tài tranh luận giữa phía Chính quyền và Quốc hội Mỹ. Trong khi, các Tổng thống thúc giục phê chuẩn để bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Bắc Cực cũng như nhiều nơi khác, thì Quốc hội luôn chần chừ vì lợi ích từ khai thác dầu khí ở vùng thềm lục địa và duy trì ảnh hưởng của lực lượng hải quân Mỹ với "nguyên tắc" tự do lưu thông hàng hải.

Kể từ tháng 3/2004, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã ít nhất 2 lần đồng thuận thông qua một nghị quyết ủng hộ việc phê chuẩn UNCLOS. Sau đó, một số tướng lĩnh quân đội, cựu Đại sứ Mỹ tại LHQ, nhiều chỉ huy chiến dịch hải quân, và Phòng Thương mại Mỹ cũng đã ủng hộ văn bản này.

Gần đây vấn đề này càng trở nên nóng hơn khi chỉ còn ít tháng nữa sẽ đến bầu cử Tổng thống Mỹ và các cuộc tranh chấp biển đảo, trong đó có tranh chấp biển Đông, đang có những diễn biến mới phức tạp hơn, ảnh hưởng đến lợi ích chiến lược của Mỹ tại khu vực.

Công ước Luật biển hiện nay là kết quả hội nghị UNCLOS lần thứ III của Liên hợp quốc diễn ra từ năm 1973 đến năm 1982, trong đó có những quy định về các vùng biển như nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa. Công ước này có hiệu lực từ năm 1994, sau khi được quốc gia thứ 60 phê chuẩn. Mặc dù, Mỹ đã ký vào bản Công ước có 162 thành viên này nhưng điều này không phát sinh hiệu lực đối với Mỹ do chưa được Quốc hội Mỹ phê chuẩn.
Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, Ngoại trưởng Hillary Clinton và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Martin Dempsey tại phiên điều trần (từ phải qua).
Phê chuẩn: Được nhiều hơn?

Thông qua UNCLOS sẽ đảm bảo những lợi ích hàng hải cho chính nước Mỹ. Sở hữu vùng EEZ lớn hơn bất kỳ nước nào trên thế giới với các nguồn tài nguyên biển phong phú trong đó có các vùng biển giàu khoáng sản gần bờ, Mỹ có thể thúc đẩy kinh tế, tăng sản xuất năng lượng và tạo ra nhiều việc làm mới trong nước, từ đó góp phần khắc phục khủng hoảng kinh tế hiện tại.

Theo Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, việc phê chuẩn Công ước luật biển 1982 sẽ hỗ trợ nhiều ngành kinh tế chính của Mỹ như các ngành dầu mỏ, năng lượng, đóng tàu, vận tải biển,... Các ngành kinh tế này sẽ được lợi vì Công ước Luật biển 1982 cung cấp khung pháp lý hợp pháp hình thành một môi trường an ninh ổn định cho các hoạt động kinh doanh.

Chia sẻ quan điểm này, Tướng Martin Dempsey, chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân Mỹ nhận xét rằng việc phê chuẩn UNCLOS sẽ giúp Mỹ đạt được những mục tiêu chiến lược ở các khu vực như châu Á. Tại khu vực biển Đông, yêu sách "đường lười bò" của Trung Quốc không hề có tính pháp lý nếu tham chiếu các điều khoản của UNCLOS 1982. Nếu Mỹ phê chuẩn công ước này, Mỹ sẽ trở thành một bên thành viên của công ước như 5 nước tranh chấp chính ở quần đảo Trường Sa Trung Quốc, Việt Nam, Philipines, Malaysia và Brunei (ngoài ra có có yếu tố Đài Loan). Từ đó, Mỹ sẽ có thêm một công cụ hòa bình để kiềm chế những hành động gây hấn và bảo vệ lợi ích của đồng minh Philipines ở khu vực biển Đông.

Lợi ích từ việc phê chuẩn này còn thể hiện ở chỗ Mỹ sẽ giành lại sự tín nhiệm của các nước và có tiếng nói hơn trong các vấn đề liên quan tới biển khi kêu gọi các quốc gia khác phải tuân theo các quy định của luật pháp quốc tế. Minh họa cho điều này chính là cuộc khủng hoảng hiện nay tại eo biển Hormuz. Với việc tự do lưu thông hàng hải được quy định trong UNCLOS, Mỹ sẽ có lập trường pháp lý vững vàng trong việc tự do qua lại dù Iran tuyên bố có thể đóng cửa eo biển này. Như vậy, chính sách cô lập Iran buộc nước này từ bỏ chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân có thêm cơ sở để thành công.

Ngoại trưởng Hillary Clinton từng tuyên bố xem việc thông qua UNCLOS là ưu tiên hàng đầu về đối ngoại trong nhiệm kỳ của bà. Ngoài ra, UNCLOS cũng được Tổng thống Obama, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và nhiều chỉ huy hải quân Mỹ ủng hộ. Do vậy, nhiều người đã lạc quan cho rằng Thượng viện Mỹ sẽ sớm tích cực xem xét bỏ phiếu thông qua Công ước quan trọng này.

Nguồn: Sưu Tầm.