Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

11 thg 7, 2012

Nợ xấu tăng 'là do chính phủ'


Một thành viên của Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính tiền tệ Quốc gia nói về các nguyên nhân dẫn tới nợ xấu lớn ở Việt Nam.

Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính tiền tệ Quốc gia, được dẫn lời nói tại một diễn đàn trực tuyến vào đầu tuần này rằng nguyên nhân trước tiên là do “Chính phủ quản lý lỏng lẻo”.

Ông Trương Đình Tuyển từng dẫn đầu
 phái đoàn VN đàm phán gia nhập WTO.
 
Hai nguyên nhân còn lại theo ông Tuyển là việc “các tổ chức tín dụng tham lam mở rộng cho vay, trong đó có nhiều khoản đầu tư của doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, không trả được nợ” và “cơ chế giám sát thiếu chặt chẽ để nợ xấu phát sinh lớn mà không có giải pháp ngăn chặn sớm”.

Bình luận được đưa ra tại buổi Bấm giao lưu trực tuyến giữa các chuyên gia kinh tế và ngân hàng do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức vào ngày 09/07 trong bối cảnh đã có trên 26.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động tại Việt Nam trong sáu tháng đầu năm nay và nợ xấu tăng cao so với năm ngoái.

Theo quy định của các cơ quan tài chính quốc tế thì những khoản nợ vay quá 90 ngày và khả năng trả nợ cả gốc và lãi bị nghi ngờ được bị xếp vào loại nợ xấu.

Tại diễn đàn này Kinh tế gia cao cấp Lê Đăng Doanh nói “tiêu chuẩn nợ xấu của Việt Nam chưa thống nhất với tiêu chuẩn nợ xấu của thế giới”.

“Tỷ lệ nợ xấu mà các công ty xếp hạng tín dụng quốc tế đưa ra cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu mà chúng ta tự xác định, thí dụ Fitch đã đưa ra tỷ lệ nợ xấu 13%. Các chuyên gia Việt Nam đưa ra tỷ lệ nợ xấu khác nhau từ 8 - 14%”.

10 thg 7, 2012

“Tử huyệt” của hệ thống ngân hàng


Ngân hàng được xem là một ngành huyết mạch trong nền kinh tế của một quốc gia. Do đó, hiển nhiên bất cứ sai lầm nào trong hệ thống ngân hàng đều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy thoái kinh tế.

Theo báo cáo của các ngân hàng tại Việt Nam mức doanh thu lợi nhuận đạt được hằng năm vẫn đạt con số kỷ lục, nhưng thực tế thì thời gian gần đây, việc giải thể và sáp nhập hàng loạt các ngân hàng cho thấy hệ thống tài chính ngân hàng của chúng ta đang thực sự "có vấn đề". Điều này không chỉ thể hiện qua thực tế còn quá nhiều ngân hàng yếu kém dẫn đến tình trạng nợ xấu tràn lan, mà quan trọng hơn nữa, đó là dấu hiệu của một sai lầm vô cùng nghiêm trọng xuất hiện khá lâu và có thể đưa đến hậu quả là sụp đổ toàn diện hệ thống ngân hàng của cả một đất nước. Bởi bắt nguồn từ chính sự nhập nhằng giữa hoạt động ngân hàng thương mại (NHTM) và ngân hàng đầu tư (NHĐT), nên hệ thống ngân hàng phải chấp nhận mức độ rủi ro quá cao, dễ bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh tế hoặc những biến động trong cũng như ngoài nước.

Giao dịch ở Ngân hàng TechcombankGiao dịch ở Ngân hàng Techcombank
Chúng ta cần nhận thức được sự khác biệt giữa hai hệ thống ngân hàng này để làm rõ vấn đề. Thông thường, NHTM là một phần quan trọng của cột sống kinh tế. Bởi đây là nơi đa số người dân ký gửi thu nhập thường xuyên cũng như tiền gửi tiết kiệm của họ. Với tâm lý của người lao động thích "ăn chắc mặc bền" cho nên kỳ vọng ưu tiên chính là sự an toàn của đồng tiền ký gửi, cộng thêm một khoản lãi suất khiêm tốn để đồng tiền của họ không bị mất giá nhiều do lạm phát.

Từ những quỹ ký gửi này NHTM sử dụng để đầu tư sinh lãi, thường chỉ bằng lãi suất ký gửi cộng thêm 2 - 3% tùy theo quy mô của tổng tài sản. Lợi nhuận đạt được sẽ được ngân hàng phân ra trả lãi cho đồng tiền ký gửi mà mình đã sử dụng và trang trải chi phí điều hành lẫn dự trù rủi ro cho số vốn đầu tư. Cơ bản NHTM thường chỉ tập trung vào những khoản cho vay truyền thống với rủi ro thấp nhất như: cá thể mua nhà để ở (với tỷ lệ vốn vay và chi phí nợ / thu nhập cao), hoặc các doanh nghiệp đã có quá trình kinh doanh tốt và thu nhập ổn định. Như vậy ta có thể hiểu NHTM hoạt động như một tổ chức phi lợi nhuận, làm lợi chỉ đủ để trang trải chi phí.

Ngược lại, NHĐT lại là những tổ chức tín dụng mưu cầu mức lợi nhuận cao, và dĩ nhiên thường hay đi đôi với một mức độ rủi ro cao hơn. Nguồn vốn chủ yếu của NHĐT là từ các nhà đầu tư có số vốn lớn và vốn nhàn rỗi. Họ hiểu rõ và chấp nhận mức độ rủi ro tối đa của luật tham gia là có thể mất hết vốn, chấp nhận rủi ro cao để kỳ vọng mức lợi nhuận đỉnh.