Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vinashin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vinashin. Hiển thị tất cả bài đăng

23 thg 7, 2012

Phần chìm của Tập đoàn kinh tế Nhà nước


Vụ án tại Vinashin Vinalines là những dẫn chứng cụ thể về sai phạm tại Tập đoàn kinh tế Nhà nước. Trong khi đó, nhiều tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đầu tư “ngoài lề” dẫn tới thiếu trọng tâm, trọng điểm, thua lỗ, nợ nần chồng chất cùng việc quản trị theo lối cũ đang đặt ra gánh nặng... 

Thực tiễn hoạt động của các TĐKTNN trong thời gian qua đã khẳng định thành công bước đầu trong việc thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và mục tiêu thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước của Chính phủ. Tuy nhiên, mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam còn mới mẻ, vì vậy các tập đoàn kinh tế cũng bộc lộ một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Đó là TĐKTNN được thành lập, liên kết bằng quyết định hành chính, một số tập đoàn là biến thể của mô hình tổng công ty cũ, nên chưa thực hiện được mục tiêu đề ra là trở thành tập đoàn kinh tế mạnh. Quy mô và nguồn vốn quá nhỏ so với các tập đoàn kinh tế trong khu vực và trên thế giới; tổ chức và hoạt động chưa có đổi mới nhiều so với tổng công ty Nhà nước trước đây, chưa tạo được sự đột phá mạnh mẽ cho mô hình tập đoàn kinh tế. Kết quả sản xuất, kinh doanh của một số tập đoàn chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước, hiệu quả hoạt động chưa cao, năng suất lao động còn thấp, sức cạnh tranh chưa đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
Kiểm toán Nhà nước công bố, EVN lỗ 8.400 tỷ đồng về lợi nhuận trước thuế năm 2010.
Việc thực hiện huy động vốn, nguồn lực của các thành phần kinh tế khác vào sản xuất, kinh doanh thông qua cổ phần hóa, tiếp nhận doanh nghiệp thành viên, cùng các thành phần kinh tế khác thành lập các công ty cổ phần mới tạo ra cơ cấu đa sở hữu ở một số tập đoàn triển khai còn chậm dẫn tới hạn chế về thu hút thêm vốn, kinh nghiệm quản lý, điều hành và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của tập đoàn kinh tế.

Một số tập đoàn có tỷ lệ nợ trên vốn còn quá cao, dẫn đến độ rủi ro lớn, khả năng thanh toán nợ thấp. Việc xử lý các tồn tại về tài chính còn chậm do nhiều nguyên nhân nhưng chưa được khắc phục. Không ít TĐKTNN chưa phát huy được vai trò chi phối trong lĩnh vực hoạt động. Các mô hình tổ chức quản lý mới triển khai còn chậm, ở một số tập đoàn vẫn duy trì biện pháp quản lý hành chính đối với các công ty con. Việc dự báo, giám sát, đánh giá đối với hoạt động của các tập đoàn kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của mô hình này.

Vốn chiếm dụng cao, nợ quá hạn và khó đòi

13 thg 6, 2012

Vinashin, Vinalines – bài học lớn trong kiến tạo phát triển


Nếu như mô hình ‘Nhà nước kiến tạo phát triển’ được xem là động lực lớn nhất đằng sau sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong thời kỳ hậu thế chiến thứ II thì thất bại trong việc xây dựng và áp dụng đầy đủ mô hình này sẽ gây nên những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế quốc dân.

Mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển

Phần nhiều ý kiến học giả trên thế giới đều ủng hộ quan điểm cho rằng nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình phát triển kinh tế phù hợp nhất với các nước công nghiệp hóa muộn. Mặc cho sức ép mạnh mẽ của làn sóng tự do đầu tư, thương mại và toàn cầu hóa do các quốc gia phát triển áp đặt, mô hình phát triển kinh tế này vẫn có sức sống mãnh liệt và được nhiều quốc gia đi sau theo đuổi.
Tàu Vinashin
Đây là một mô hình phát triển kinh tế phức tạp, với nhiều đặc trưng cơ bản. Về chi tiết, nó đòi hỏi sự quyết tâm và kiên định của lãnh đạo nhà nước; sự tồn tại một bộ máy nhân sự nhà nước chuyên nghiệp dựa trên chế độ tuyển dụng nhân tài; sự tập trung quyền lực của nhà nước, đặc biệt là về tài chính; sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và doanh nghiệp lớn để thực hiện những chương trình phát triển chung trong chính sách công nghiệp; sự chọn lọc trong đầu tư và phát triển; năng lực của nhà nước trong điều tiết các thế lực và lợi ích tư nhân...

31 thg 5, 2012

Tham nhũng hay không biết đầu tư, quản lý ?

Theo thống kê mới nhất tính đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước lên trên 415.000 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. PetroVietnam dẫn đầu 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước với khoản nợ lên tới 72.000 tỷ đồng.

Theo Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước” mà Bộ Tài chính vừa hoàn thiện, tính đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước lên hơn 415.000 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Đáng chú ý, PetroVietnam đã soán ngôi “chúa nợ” của EVN dẫn đầu 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước với khoản nợ lên tới hơn 72.000 tỷ đồng.

Petro Vietnam đã soán ngôi EVN để đứng đầu các doanh nghiệp Nhà nước nợ ngân hàng, với tổng số nợ 72.300 tỷ đồng.
Nội dung đề án đề cập khá chi tiết về tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay, cũng như phân tích những điểm tồn tại và là những vấn đề mà quá trình tái cơ cấu phải xử lý.

Cụ thể, tính đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Trong đó, chỉ riêng 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước dư nợ đã lên tới 218.738 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước.

Trong đó, dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) với 72.300 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đứng thứ hai với 62.800 tỷ đồng; thứ ba là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản (TKV) với 20.500 tỷ đồng; kế đến là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin) với 19.600 tỷ đồng.
Ngoài ra, đề án cho biết có đến 30/85 tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần, đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần, như: Tổng công ty Xây dựng Công nghiệp, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội, Tổng công ty Thành An và Tổng công ty Phát triển đường cao tốc.

“Tình hình tài chính tại nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa đảm bảo các yêu cầu về an toàn tài chính, đang tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro và đổ vỡ khi kinh doanh không hiệu quả. Mức lỗ bình quân của các tập đoàn, tổng công ty còn lớn: theo báo cáo thống kê mức lỗ bình quân của một doanh nghiệp nhà nước cao gấp 12 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước”, đề án đưa ra đánh giá.

Nói về số nợ này, lãnh đạo một doanh nghiệp ô tô kinh ngạc và đưa ra so sánh: Quy định mới nhất của Việt Nam là mua  ô tô công cho bộ trưởng đi công tác giá không quá 1 tỷ đồng. Như vậy, với số tiền nợ hơn 400.000 tỷ đồng trên, sẽ mua được hơn 400.000 cái ô tô cho bộ trưởng nếu quy giá mỗi chiếc xe 1 tỷ đồng. Nếu số xe trên đỗ cắn đuôi nhau trên đường quốc lộ, mỗi chiếc dài khoảng 4m thì số ô tô trên sẽ tạo thành 1 hàng dài 400.000 x 4 = 1.600.000m (hay 1.600km). Như vậy, chiều dài hàng xe gần bằng độ dài quốc lộ 1A (từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau)! Nói vậy để dễ hình dung hơn về số nợ khổng lồ của các doanh nghiệp Nhà nước.

Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, đã làm ăn kinh doanh thì chuyện vay nợ là việc bình thường. Quan trọng là xem việc các doanh nghiệp làm ăn có lãi không, và đóng góp vào ngân sách Nhà nước như thế nào. Bên cạnh đó, vấn đề là hiệu quả quản lý, sử dụng đồng vốn Nhà nước như thế nào. Đánh giá lỗ hay lãi cũng nên dựa vào tiêu chí hiệu quả. Nếu doanh nghiệp Nhà nước nào làm ăn luôn thua lỗ thì cứ mạnh dạn cho giải thể, cho tư nhân đầu tư.

Thực tế, trong số những doanh nghiệp Nhà nước vay nợ trên, có không ít doanh nghiệp lãi lớn trong năm 2011 như Petro Vietnam, VNPT, Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam, Viettel, Sông Đà, các Tổng công ty Lương thực Miền Bắc, Miền Nam, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn… Tuy nhiên, dù lời lãi cũng phải đánh giá lại việc sử dụng đồng vốn Nhà nước của các doanh nghiệp này xem có tương xứng hay không.

Nguồn: Sưu Tầm.